Chương 11/453
Thứ 11 chương Thái Dương như thường lệ dâng lên
Audio chương này hiện không khả dụng.
Chương 11: Thái Dương Vẫn Mọc Như Thường
Trần Gia Ổ được xây men theo thế núi thành một tòa thổ bảo hình tròn. Ngọn núi ấy chính là Cửu Diệu Sơn. Cái tên Cửu Diệu Sơn do phụ thân của Trần Thao Chi là Trần Túc đặt. Ông nói rằng dưới đêm trăng, các đỉnh núi tụ lại như từng chòm, tựa nhật nguyệt tinh thần bày hàng trên trời, bởi thế mới đặt tên là Cửu Diệu Sơn.
Cửu Diệu Sơn không cao, nhưng con đường núi dài bốn dặm từ chân núi lên tới đỉnh cũng đủ khiến Trần Thao Chi thở hồng hộc. Lại thêm đêm qua vừa có mưa, đường núi trơn trượt, mấy lần suýt ngã. Tuy nhiên, dọc đường mậu lâm tu trúc, hoa dại, dây leo cổ thụ, lại có tiếng chim núi ríu rít uyển chuyển, khiến lòng người khoáng đạt, tinh thần thư thái. Những ngọn núi quanh Tây Hồ quả thật không có ngọn nào là không đẹp.
Nhưng thân thể này thực sự quá yếu. Khi leo lên tới đỉnh núi, Trần Thao Chi gần như mệt đến không đứng thẳng nổi, hai chân run lẩy bẩy, vội tìm một tảng đá ngồi nghỉ.
“Thân thể này quả thật gầy yếu quá, phải rèn luyện cho tử tế mới được.”
Lai Đức là con trai út của Lai Phúc, lớn hơn Trần Thao Chi một tuổi. Cậu ta mắt to mày rậm, vóc người tuy thấp hơn Trần Thao Chi đôi chút nhưng chân tay rắn chắc, rất khỏe mạnh. Sáng sớm nay Lai Đức đang chăn trâu dưới chân Cửu Diệu Sơn, thấy tiểu công tử hứng chí leo núi rèn luyện thân thể nên liền đi theo.
Trần Thao Chi thấy Lai Đức không hề đổ mồ hôi, cũng chẳng thở gấp, đi trên đường núi gập ghềnh như đi trên đất bằng, không khỏi ngưỡng mộ, hỏi:
“Lai Đức, ngươi có biết võ nghệ không?”
Lai Đức gãi đầu đáp:
“Ta chỉ biết chăn trâu, đào đất, không biết võ nghệ.”
Trần Thao Chi cười:
“Vậy quanh đây có cao nhân ẩn cư nào không? Người biết võ nghệ, hoặc biết Ngũ Cầm Hí ấy?”
Lai Đức lập tức đáp:
“Có.”
Cậu ta leo lên một tảng đá lớn trên đỉnh núi, ngẩng đầu nhìn về phương bắc, chỉ về phía Kim Ngưu Hồ mênh mông khói sóng ở xa:
“Trên Bảo Thạch Sơn bên bờ bắc hồ có một vị lão thần tiên. Ông ấy luyện tiên đan trường sinh bất lão, còn có thể đằng vân giá vũ, lợi hại lắm.”
Trần Thao Chi hỏi:
“Ngươi tận mắt nhìn thấy rồi sao?”
Lai Đức lắc đầu:
“Thì chưa thấy tận mắt, nhưng dân quanh đây đều nói vậy. Nghe đâu từng có người muốn bái lão thần tiên làm thầy, quỳ suốt ba ngày ba đêm mà lão thần tiên chẳng buồn để ý, chỉ ngồi một mình ăn tiên đan.”
Trần Thao Chi bật cười lớn, đứng dậy nhìn về phía bắc Tây Hồ.
Không biết vị lão thần tiên mà Lai Đức nói rốt cuộc là ai. Có lẽ là một người tu hành của Thiên Sư đạo chăng?
Từ Cửu Diệu Sơn vòng qua Tây Hồ tới Bảo Thạch Sơn cũng phải hơn hai mươi dặm đường. Chờ sau này rèn luyện thân thể khỏe hơn, hắn sẽ gọi Lai Đức cùng đi bái phỏng vị lão thần tiên ấy. Biết đâu lại là một danh nhân nào đó trong lịch sử.
Phía bắc Cửu Diệu Sơn là Tây Hồ, phía nam kéo dài tới khu vực Ngọc Hoàng Sơn, nơi ấy có hơn ba nghìn mẫu ruộng tốt. Đó đều là điền sản của Trần thị ở Tiền Đường. Giữa các thửa ruộng có những bờ nhỏ chia cách. Nơi núi và đồng ruộng tiếp giáp còn rải rác hơn hai mươi hộ dân, toàn là tá điền thuê ruộng của Trần thị canh tác.
Lai Đức cười ngây ngô:
“Tiểu công tử nhìn xem, đám ruộng lớn thế kia, riêng Tây Lâu của chúng ta đã chiếm hơn phân nửa rồi. Chà chà, nhìn mà thích thật!”
Trần Thao Chi đưa tay phải vẽ một vòng giữa không trung, cười nói:
“Nếu toàn bộ đất đai quanh Kim Ngưu Hồ đều thuộc về Tây Lâu chúng ta thì càng hay.”
Lai Đức chợt nhớ ra một chuyện mình nghe cha mẹ thì thầm đêm qua, liền hỏi:
“Tiểu công tử, nghe nói Bắc Lâu muốn chiếm ruộng đất của Tây Lâu chúng ta, có thật không?”
Trần Thao Chi đáp:
“Không có chuyện đó. Ruộng đất của Tây Lâu chúng ta đâu phải ai muốn chiếm là chiếm được.”
Lai Đức siết chặt hai nắm đấm to, lớn tiếng:
“Đúng vậy! Ai dám tới chiếm, ta sẽ liều mạng với kẻ đó!”
Lai Đức từ nhỏ lớn lên ở Trần Gia Ổ, từ lâu đã coi Tây Lâu Trần thị như nhà mình, cùng chia sẻ vui buồn, sống chết có nhau.
Gió núi từng cơn thổi qua, rừng trúc lao xao. Giữa bóng núi đá và bóng cây, mặt nước Tây Hồ tưởng như có thể với tay chạm tới. Phía chân trời phương đông, muôn dải hà quang rực rỡ, một vầng hồng nhật sắp sửa nhô lên.
Lai Đức thấy Trần Thao Chi không nói gì cũng im lặng đứng một bên.
Đúng lúc ấy, tia nắng đầu tiên của buổi sớm chiếu tới, dường như xuyên thẳng vào đôi mắt sâu thẳm của Trần Thao Chi.
Trong khoảnh khắc, thiếu niên tuấn mỹ ấy tựa như châu ngọc phản chiếu ánh dương, rạng ngời chói lọi. Ánh sáng ấy khiến mắt Lai Đức cũng phải hoa lên.
Rồi cậu nghe Trần Thao Chi khẽ nói:
“Mặt trời vẫn mọc như thường.”
...
Vài ngày sau đó, Trần Thao Chi kiên trì mỗi ngày hai lần vào lúc sáng sớm và hoàng hôn leo lên Cửu Diệu Sơn. Dù bắp chân đau nhức nhưng với một người từng có kinh nghiệm đi đường núi lâu năm như hắn, chút khổ cực ấy chẳng đáng là gì. Hắn biết chỉ vài ngày đầu hơi khó chịu, sau đó sẽ quen dần, thân thể cũng ngày một cường tráng hơn.
Mỗi buổi sáng, Trần Thao Chi đọc hết một thiên trong 《Mao Thi Tiên》 của Trịnh Huyền, rồi nâng cổ tay luyện thư pháp nửa canh giờ. Buổi chiều lại đọc 《Luận Ngữ Tập Giải》 của Mã Dung rồi tiếp tục luyện chữ nửa canh giờ.
Trước tiên luyện tay trái, sau đó luyện tay phải. Tay trái viết 《Tuyên Thị Biểu》, tay phải viết 《Trương Hàn Tư Lư Thiếp》. Không có bản mẫu để đối chiếu, hắn chỉ có thể dựa vào ký ức.
Khi Trần Thao Chi đọc sách luyện chữ, đôi cháu trai cháu gái đáng yêu của hắn luôn ngoan ngoãn ngồi bên mép chiếu, dùng hai đôi mắt đen láy chăm chú nhìn người thúc phụ tuấn tú ấy với vẻ đầy ngưỡng mộ.
Đặc biệt là khi hắn luyện thư pháp, chữ viết của tay trái và tay phải hoàn toàn khác nhau, khiến hai đứa nhỏ trợn tròn mắt, miệng nhỏ khẽ hé ra, tỏ rõ vẻ thán phục.
Nhuận Nhi rất thông minh. Không ai dạy nàng biết chữ cả. Khi tổ mẫu dạy huynh trưởng Trần Tông nhận mặt chữ, nàng chỉ lặng lẽ tựa trong lòng tổ mẫu, yên lặng nhìn, yên lặng nghe. Hễ chữ nào Trần Tông nhận biết được thì nàng cũng nhận biết được.
Sách vỡ lòng của hai huynh muội lại chính là 《Luận Ngữ》. Trước hết chỉ cần nhận mặt chữ, còn nghĩa lý chưa hiểu cũng không sao, vài năm sau sẽ học tiếp.
Điều buồn cười là vì Nhuận Nhi ngồi đối diện Trần Tông. Trần Tông cầm sách đọc từng chữ theo lời tổ mẫu dạy, còn Nhuận Nhi nhìn từ phía đối diện nên nhận mặt chữ đều bị đảo ngược. Về sau phải mất rất nhiều công sức mới sửa lại được.
Hiện giờ Trần Tông tám tuổi, Nhuận Nhi sáu tuổi. Toàn bộ chữ trong 《Luận Ngữ》 đều đã nhận biết được, chỉ là ý nghĩa bên trong vẫn chưa hiểu. Vì thế Trần Thao Chi bắt đầu giảng giải nghĩa lý cho hai đứa.
Thời Ngụy Tấn, quan học suy vi, tư học thịnh hành. Trẻ nhỏ phần lớn đều dựa vào cha anh và trưởng bối trong nhà để khai tâm. Cái gọi là gia học uyên nguyên cũng xuất phát từ đó.
《Luận Ngữ》 của Trần Thao Chi vốn do huynh trưởng Trần Khánh Chi truyền dạy cho hắn. Nay hắn lại truyền dạy cho cháu trai cháu gái. Chỉ có điều, sự lĩnh hội của hắn đối với 《Luận Ngữ》 còn sâu sắc hơn cả Trần Khánh Chi, bởi vậy lúc giảng giải luôn có thể diễn đạt sâu xa mà dễ hiểu.
Ngoài cửa sổ, Trần mẫu Lý thị đứng lặng nghe tiếng đọc sách lanh lảnh vang lên trong thư phòng. Trong phòng, một đôi cháu nội và cháu ngoại đang chăm chỉ học tập.
Khóe mắt bà dần ươn ướt.
Có con cháu hiếu học như vậy, Trần thị Tây Lâu còn lo gì không hưng thịnh?
Điều khiến Trần Thao Chi hơi phiền lòng là sách vở thực sự quá ít.
Hiện tại hắn ham học như khát nước, nhưng lại không có đủ sách để đọc. Trong thời đại này, sách quý giá vô cùng. Đừng nói thẻ tre hay sách lụa đời trước, ngay cả sách giấy cũng hết sức hiếm hoi. Có tiền chưa chắc đã mua được, phần lớn đều phải mượn rồi chép tay.
Hơn trăm quyển 《Mao Thi Tiên》 và 《Luận Ngữ Tập Giải》 trong thư phòng đều là năm xưa Trần Túc đích thân chép lại.
Người thời này đọc sách trọng tinh không trọng đa. Cơ hội bác lãm quần thư rất ít, vì thế chỉ cần tinh thông một hai bộ kinh điển cũng đủ để có chỗ đứng trong sĩ lâm.
Hiện nay Trần Thao Chi đã thuộc lòng các chú giải của Trịnh Huyền và Mã Dung đối với hai bộ kinh điển ấy, nghĩa lý cũng đã nắm được khá thông suốt.
Nhưng hắn tuyệt đối không thỏa mãn với điều đó.
Chỉ riêng 《Luận Ngữ》, từ thời Tần Hán đến nay đã có đến mấy chục nhà chú giải. Mỗi người đều có cách lý giải riêng. Mà người Ngụy Tấn lại đặc biệt ưa dùng huyền học để giải thích kinh điển Nho gia.
《Luận Ngữ Tập Giải》 của Hà Yến và 《Luận Ngữ Thích Nghi》 của Vương Bật đều lấy tư tưởng Lão Trang làm nền tảng để chú giải 《Luận Ngữ》.
Nếu muốn được các vọng tộc sĩ tộc coi trọng và công nhận, chỉ học kinh điển Nho gia là chưa đủ. Hắn còn phải nghiên cứu các bản chú giải của Hà Yến và Vương Bật.
Huyền, Nho song thông mới là mục tiêu của Trần Thao Chi.
Nhưng không có sách để đọc thì biết làm sao đây?