Chương 4/453
Thứ 4 chương Bên dưới rừng trúc trận kia long trọng khói lửa —— Lý Nhược Hi bình Nguyễn Tịch
Audio chương này hiện không khả dụng.
Chương 4: Bên Dưới Rừng Trúc, Màn Pháo Hoa Rực Rỡ Đó - Bình Nguyễn Tịch
Thuở nhỏ nghe kể chuyện, thứ ta thích nhất luôn là những câu chuyện có phần mở đầu phiêu diêu, xa vời.
Rất lâu về trước, ở một nơi nào đó, có một nhóm người. Vào một thời điểm nào đó, họ đã làm XXXX.
Khi câu chuyện vừa mới bắt đầu, tất cả dường như đều thật tốt đẹp.
Năm Chính Thủy thứ năm, tức năm 244 Công nguyên. Nguyễn Tịch dẫn theo ba người bằng hữu đến khu rừng trúc gần nơi ở của Kê Khang tại Sơn Dương. Một người là cháu ruột của ông, Nguyễn Hàm; một người là vong niên tiểu hữu Vương Nhung; người còn lại là bạn rượu tình cờ quen trên đường, Lưu Linh.
Lúc này, Kê Khang vẫn để trần phần thân trên cường tráng, đang rèn sắt trong rừng trúc; Hướng Tú thì không nhanh không chậm kéo bễ. Hai người ngẩng đầu lên, mỉm cười thân thiện với nhóm Nguyễn Tịch, xem như đã chào hỏi.
Nghe tin Nguyễn Tịch tới, Sơn Đào, người đã từ quan ở ẩn, cũng vội vàng đánh xe bò tới nhà Kê Khang. Gặp lại bạn cũ, quen thêm bạn mới, ai nấy đều vô cùng vui vẻ.
Từ đây, Trúc Lâm Thất Hiền chính thức tụ họp.
Kê Khang, Nguyễn Tịch, Sơn Đào, Hướng Tú, Nguyễn Hàm, Vương Nhung, Lưu Linh.
Bảy văn nhân thiên tài với cá tính khác biệt, tạm gác thế giới thế tục đang chìm trong cuộc tranh đấu dữ dội giữa Tư Mã thị và Tào thị, cùng trốn vào khu rừng trúc thanh u, thiên nhiên tĩnh lặng này.
Khi ấy, các "danh sĩ Chính Thủy" gần như đã bị Tư Mã thị thanh trừng sạch sẽ. Chỉ có Hạ Hầu Huyền đang nhậm chức tại tiền tuyến Lương Châu chống Thục Hán là còn may mắn thoát khỏi tai họa. Đại sư huyền học Vương Bật cũng đã mất sớm.
Phong trào từng được gọi là một lần "thức tỉnh nhân tính", một lần "siêu việt cảnh giới tinh thần" trong lịch sử Trung Hoa, tiếng vang của "Chính Thủy chi âm" cũng dần tan biến.
Trong rừng trúc, bảy vị lão huynh này cởi bỏ giày, ngồi lên tiệc rượu. Dựa vào men rượu và trà thơm để hứng khởi tinh thần, bắt đầu nghiên cứu huyền học, chấn hưng tư tưởng.
Đây là một cuộc "phục hưng văn hóa" rất triệt để trong lịch sử Lưỡng Tấn.
Kể từ khi lễ giáo Đông Hán suy bại rồi không gượng dậy nổi, tư tưởng Nho gia cuối cùng cũng bị tư tưởng Đạo gia áp đảo hoàn toàn, mở ra một thời đại đặc biệt nhất trong lịch sử Trung Hoa: thời kỳ Đạo gia trị thiên hạ của Lưỡng Tấn.
Trước tiên hãy nói về những gương mặt mới tham dự buổi gặp gỡ này.
Nguyễn Hàm, cái tên được lưu lại trong ký ức của Thế vận hội Bắc Kinh 2008.
Suốt đời, Nguyễn Hàm xem người chú Nguyễn Tịch là hình mẫu của danh sĩ, là niềm tự hào lớn nhất của Nguyễn gia.
Một đứa trẻ từ nhỏ đã theo sau Nguyễn Tịch, người nổi tiếng vì sự cuồng ngạo và phóng khoáng, dĩ nhiên cũng có không ít giai thoại thú vị thời niên thiếu.
Nguyễn gia chia thành hai nhánh, sống cách nhau bởi một con đường. Đại khái cũng giống như Đông lâu, Tây lâu của Trần Gia Ổ trong 《Thượng Phẩm Hàn Sĩ》.
Nguyễn gia phía bắc đường nhờ nhạy bén chính trị, trong thời đại đấu đá quyền lực rối ren ấy lần nào lựa chọn phe phái cũng thành công, vì thế địa vị hiển quý, là thế gia vọng tộc thực sự.
Ngược lại, Nguyễn gia phía nam đường phần lớn đều là những văn nhân nhiều cảm hứng nghệ thuật nhưng năng lực chính trị lại chẳng ra sao, gia cảnh khá sa sút, cũng chẳng hơn hàn môn bao nhiêu.
Nguyễn Tịch và Nguyễn Hàm đều thuộc nhánh phía nam đường ấy.
Một buổi chiều trời trong gió nhẹ, rất thích hợp để phơi quần áo.
Nguyễn gia phía bắc đường đem đủ loại tơ lụa gấm vóc ra phơi, nhìn hoa cả mắt, sự giàu sang hiện rõ mồn một.
Người qua đường đều ngưỡng mộ. Kẻ nhàn rỗi tụ tập càng đông thì đề tài bàn tán cũng càng nhiều.
Sau khi xuýt xoa khen ngợi Nguyễn gia phía bắc đường, có người bỗng hỏi:
"Vì sao Nguyễn gia phía nam đường không phơi quần áo?"
Câu hỏi ấy vừa khéo lọt vào tai Nguyễn Hàm.
Chàng trai trẻ không nói hai lời, chạy về nhà lôi ra hai chiếc quần rách, dựng một cây sào trúc giữa sân rồi ngang nhiên đem phơi.
Lập tức khiến cả con phố sáng bừng!
Mọi người sững sờ.
Có người hỏi:
"Tiểu tử, ngươi cố tình lấy quần rách ra để chọc người khác sao?"
Nguyễn Hàm bật cười lớn:
"Bọn họ đã tục như thế, ta cũng không thể miễn tục được. Ta cũng treo một món ra cho họ xem chơi!"
Nói xong liền đắc ý cười lớn rồi nghênh ngang bỏ đi.
...
Nguyễn Hàm còn từng cùng tộc nhân uống rượu.
Người khác uống bằng chén, nhưng hễ Nguyễn Hàm xuất hiện, mọi người đều đổi sang dùng chậu lớn.
Đặt chậu giữa sân rồi cùng nhau uống.
Đang uống thì một bầy lợn ngửi thấy mùi rượu cũng kéo tới bên cạnh chậu.
Nguyễn Hàm dứt khoát ngồi cạnh đàn lợn, cùng chúng uống rượu.
Thế nào gọi là thuận theo thiên tính?
Thế nào gọi là cùng vui với lợn?
Mấy nghìn năm Hoa Hạ, cũng chỉ thấy duy nhất một vị cao nhân có thể kết giao với lợn thành bạn rượu như vậy.
...
Nguyễn Hàm sùng bái thúc phụ Nguyễn Tịch, vì thế tính cách cũng phóng khoáng, không câu nệ lễ pháp.
Mẹ Nguyễn Hàm mắc bệnh nặng, cô mẫu đến thăm.
Không hiểu vì sao, cậu ta lại để ý một tỳ nữ người Tiên Ti đi theo bên cạnh cô mẫu.
Sau một thời gian qua lại, hai người nảy sinh tình cảm.
Trong một đêm khuya vắng vẻ, đôi trai gái trẻ tuổi lén gặp nhau ở nơi hẻo lánh.
Tình cảm mãnh liệt khiến họ hẹn thề bên nhau trọn đời.
Rồi cuối cùng cũng nên duyên vợ chồng.
Về sau mẹ Nguyễn Hàm qua đời, ông phải mặc tang phục chịu tang.
Sau khi tham dự tang lễ, cô mẫu chuẩn bị trở về nhà chồng. Ban đầu bà đã đồng ý để lại tỳ nữ ấy, nhưng trước lúc đi lại tự ý dẫn nàng theo.
Nguyễn Hàm khi ấy đang ở linh đường bái tạ khách viếng. Nghe tin liền lập tức mượn một con lừa đuổi theo.
Đuổi kịp rồi, vẫn khoác tang phục trên người, ông nắm tay cô gái cùng cưỡi một con lừa quay về.
Về sau văn học gia Nguyễn Phu chính là con trai của Nguyễn Hàm và người tỳ nữ ấy.
...
Nguyễn Hàm còn là một nhà âm nhạc xuất sắc.
Ông giỏi đàn tỳ bà, tinh thông âm luật.
Nghe nói ông từng cải tiến loại tỳ bà du nhập từ Tây Vực. Đời sau gọi loại nhạc cụ ấy là "Nguyễn Hàm", gọi tắt là "đàn Nguyễn".
Tuân Úc từng cùng Nguyễn Hàm bàn luận âm luật, rồi tự than mình không bằng.
Về sau do hiềm khích, Tuân Úc điều Nguyễn Hàm làm Thái thú Thủy Bình. Bởi vậy đời sau cũng gọi cây đàn ấy là "Nguyễn Thủy Bình".
Đời Đường, khi khai quật được một chiếc tỳ bà bằng đồng trong mộ Nguyễn Hàm, người ta chính thức đặt tên nhạc cụ ấy là "đàn Nguyễn".
Đó là loại nhạc cụ thân tròn bằng gỗ, bốn dây mười hai phím, ôm thẳng trước ngực để gảy.
...
Tiếp theo là Vương Nhung.
Người này nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa vì tính keo kiệt.
《Thế Thuyết Tân Ngữ》 và 《Tấn Thư》 đều có rất nhiều ghi chép về ông.
Vương Nhung là người cực kỳ lanh lợi, chỉ hợp nói chuyện với Nguyễn Tịch.
Nếu không phải Nguyễn Tịch bảo rằng:
"Đi, ta dẫn ngươi đi gặp mấy nhân vật thú vị."
Thì có lẽ đời này ông cũng chẳng bao giờ rời Lạc Dương để tới nơi khỉ ho cò gáy này, tham gia cái gọi là tổ hợp nghệ thuật "Trúc Lâm Thất Hiền".
...
Lưu Linh xuất hiện.
Đây là một nhân vật đầy màu sắc truyền kỳ.
Ông nghiện rượu như mạng, là tửu tiên nổi tiếng nhất lịch sử Trung Hoa.
Nghe nói tại Hà Bắc ngày nay còn có một loại rượu mang tên "Lưu Linh Túy".
Ông thích uống rượu, tính tình phóng khoáng.
Thân hình thấp bé, râu ria rậm rạp, tướng mạo có phần xấu xí. Nhưng sinh ra trong gia đình sĩ tộc nên không thiếu tiền, cũng chẳng thiếu rượu.
Có lần vợ ông khóc lóc khuyên nhủ:
"Phu quân, rượu uống quá nhiều có hại thân thể. Chàng bỏ đi thôi."
Lưu Linh đáp:
"Được thôi. Nhưng ta không thể tự bỏ được. Phải lập lời thề trước thần linh mới được. Nàng mau chuẩn bị rượu thịt để tế thần."
Vợ ông tưởng thật, lập tức mang rượu thịt tới.
Lưu Linh đặt rượu thịt trước bàn thờ rồi quỳ xuống cầu khấn:
"Trời sinh Lưu Linh, lấy rượu làm tên. Một hộc rượu mới đủ uống, năm đấu mới đủ tỉnh. Lời của phụ nhân, tuyệt đối không thể nghe."
Nói xong liền mang rượu thịt ra ăn uống một trận, say túy lúy.
...
Ông còn là một trong những nghệ sĩ hành vi sớm nhất lịch sử Trung Hoa.
Uống say rồi có khi chẳng mặc quần áo, nằm trần trong nhà.
Khách tới thăm trách ông thất lễ.
Ông lại đáp:
"Trời đất là nhà của ta, căn phòng này là quần áo của ta. Các ngươi chen vào quần áo của ta làm gì?"
...
Lưu Linh thích du ngoạn.
Ông thường ngồi xe hươu, mang theo một bầu rượu.
Phía sau xe luôn có người hầu vác thuổng đi theo.
Ông dặn:
"Nếu ta uống say chết dọc đường thì đào một cái hố rồi chôn luôn tại chỗ."
Người hầu nghe xong chỉ biết sững sờ.
Theo ghi chép địa phương chí, cuối đời Lưu Linh từng du ngoạn vùng Lỗ Nam.
...
Kê Khang gọi mọi người ngồi vào tiệc.
Mấy người ngồi bệt xuống đất, thưởng trà uống rượu, đàm huyền luận đạo.
Nguyễn Hàm tính tình điềm tĩnh, chỉ lặng lẽ nghe thúc phụ Nguyễn Tịch cùng Kê Khang, Hướng Tú tranh luận, thỉnh thoảng mới nhấp vài ngụm thanh tửu.
Vương Nhung thì chỉ nói chuyện hợp với Nguyễn Tịch.
Sơn Đào chất phác ít lời, luôn mỉm cười lắng nghe.
Nguyễn Tịch lúc này đã chuyển biến từ một nho sĩ chính thống sang người theo đuổi huyền học. Mỗi lần đàm luận đều sắc bén vô cùng.
Ba người Nguyễn Tịch, Kê Khang và Hướng Tú nói đến trời đất tối tăm.
Thỉnh thoảng Lưu Linh lại đưa qua một bát rượu.
Nguyễn Tịch uống cạn rồi tiếp tục sa vào vòng suy tư:
"Trước khi sinh ra ta là ai? Sau khi ta chết, ai là ta?"
Đó là một đề tài triết học cao thâm chẳng khác gì câu hỏi "gà có trước hay trứng có trước".
...
Ngoài uống rượu, đàm huyền, bọn họ còn cùng nhau chơi nhạc.
Nguyễn Hàm chơi đàn Nguyễn.
Kê Khang là bậc đại sư cổ cầm.
Lưu Linh thích gõ vào vò rượu tạo nhịp.
Mọi người hợp tấu cho tiếng hú dài của Nguyễn Tịch.
Tiếng hú ấy tựa rồng ngâm, như phượng hót.
Điều này thật sự có ghi chép trong sử sách.
Kê Khang không chỉ là nhạc công nổi tiếng mà còn là nhà soạn nhạc hàng đầu.
Ông từng sáng tác 《Trường Thanh》 và 《Đoản Thanh》, nổi danh khắp thiên hạ.
Kê Khang sáng tác, Nguyễn Tịch cất tiếng ngân dài, cả dàn nhạc cùng hòa tấu.
Đó mới thật sự là nghệ thuật.
...
Ta thường nghĩ, nếu tổ hợp "Trúc Lâm Thất Hiền" này thực sự lưu diễn khắp các danh thành, chắc chắn vé sẽ bán cực chạy, người xem chen kín đường phố.
Sơn Đào làm người quản lý.
Hướng Tú làm người dẫn chương trình.
Quả thực hoàn hảo.
Đáng tiếc, số phận đã sớm đặt chiếc cốc bi kịch ấy lên bàn trà của Tư Mã thị.
Chỉ cần khẽ đẩy một cái, mọi thứ sẽ vỡ vụn đầy đất.
...
Về sau, câu chuyện này không còn nữa.
Dưới ngòi bút của ta, nó cũng dừng lại tại đây.
Sau cuồng hoan thường chỉ còn lại cảnh tượng ngổn ngang.
Sau phồn hoa thường là nỗi tiêu điều.
Năm 244 Công nguyên, tại rừng trúc Sơn Dương, có bảy người mang tên "Trúc Lâm Thất Hiền" từng mở một bữa tiệc lớn.
Họ uống rượu, làm thơ, đàm huyền luận đạo.
Dùng tài hoa cẩm tú của mình thắp sáng một màn pháo hoa rực rỡ trên bầu trời văn học Hoa Hạ.
Màn pháo hoa ấy nở rộ từ Đông Tấn, kéo dài đến Thịnh Đường, rồi lan tới tận hôm nay.
Pháo hoa vẫn còn đó.
Người xem đã đổi thay.
Bất kể hậu thế khen hay chê, nó vẫn giống như những chủ nhân năm xưa của mình:
Hưng khởi một cách tự nhiên, rồi tỏa sáng một cách tự nhiên.
(Hết chương)