Chương 135/237
Thứ 135 chương Hoang thôn lão nhân
Audio chương này hiện không khả dụng.
Chương 135: Lão nhân trong thôn hoang
Yến Diêu Ca không hỏi thêm nữa, vung roi thúc ngựa, dẫn cả đoàn tiếp tục đi dọc theo con đường mòn gập ghềnh.
Ánh chiều tà dần phủ kín sườn núi. Cuối cùng, bọn họ cũng tới được thôn xóm hoang phế kia.
Đầu thôn trơ trụi, đến cả cây cổ thụ dùng để che bóng mát cũng chỉ còn lại những cành khô héo, xiêu vẹo đứng bên đường.
Bức tường đất bao quanh thôn vốn được đắp bằng đất nện đã sụp quá nửa, đá vụn vương vãi khắp nơi. Ngay cả một bóng người cũng không thấy, tĩnh mịch đến rợn người.
Phóng mắt nhìn ra xa, phần lớn nhà cửa trong thôn đều đổ nát tiêu điều, tường gạch mộc nứt toác từng khe lớn.
Ngói xanh trên mái nhà đã thiếu mất gần nửa. Cỏ dại mọc um tùm từ chân tường viện, trước cổng sân, thậm chí còn leo lên cả bệ cửa sổ và mái hiên.
Không ít cánh cửa mở hé xiêu vẹo, bên trong trống không, phủ một lớp bụi dày, mạng nhện giăng kín khắp nơi.
Yến Diêu Ca ra hiệu dừng lại, quay sang dặn Yến Cảnh Hành:
“A Hành, đệ ở lại trong rừng ngoài thôn trông ngựa, đồng thời canh chừng Triệu Hổ, đừng để hắn chạy lung tung hay lên tiếng. Chúng ta vào trong dò xét trước.”
Yến Cảnh Hành gật đầu nhận lời, dắt mấy con ngựa cùng Triệu Hổ đang bị huyễn thuật khống chế lùi vào khu rừng rậm cách đó không xa, ẩn mình trong bóng tối.
Yến Diêu Ca, Hoa Lộng Ảnh, Thẩm Dạ Chu và Lục Linh chỉnh lại y phục vải thô trên người, thu liễm toàn bộ khí tức, giả thành những lữ nhân bình thường đang đi đường, rồi hướng vào trong thôn.
Đi sâu tới căn nhà nông ở tận cuối thôn, bọn họ cuối cùng cũng nhìn thấy một lão nhân đang khom lưng thu dọn đống củi khô ngoài sân.
Lão nhân tóc bạc như tuyết, lưng còng nghiêm trọng, trên người mặc bộ y phục vải thô vá chằng vá đụp. Nghe thấy tiếng bước chân, ông chậm rãi ngẩng đầu lên, đôi mắt đục ngầu lập tức hiện lên vẻ cảnh giác, nhìn chằm chằm bốn người.
Yến Diêu Ca bước lên một bước, cố ý bày ra vẻ mặt mệt mỏi của người đi đường xa, nhẹ giọng nói:
“Lão bá, chúng tôi đi đường ngang qua nơi này, khô cả cổ họng, thật sự chịu không nổi. Không biết có thể xin ngài một bát nước uống, nghỉ chân chốc lát rồi sẽ đi ngay được không?”
Lão nhân quan sát bọn họ từ đầu đến chân, đáy mắt đầy vẻ nghi ngờ, môi mím chặt. Rõ ràng ông hoàn toàn không tin lời giải thích ấy, sự đề phòng trên người cũng không hề giảm bớt.
Một lát sau, lão nhân thẳng thừng vạch trần:
“Các ngươi cũng vì chuyện của Yên Sơn mà tới chứ gì? Còn giả làm người qua đường làm gì, không cần thiết đâu.”
Bị nói toạc ra, mấy người hơi lúng túng, nhưng rất nhanh đã bình tĩnh bỏ lớp ngụy trang.
Yến Diêu Ca thần sắc điềm tĩnh, trực tiếp gật đầu thừa nhận:
“Lão bá quả thật tinh mắt. Chúng tôi đúng là vì chuyện Yên Sơn mà đến.”
Dứt lời, nàng lấy từ trong ngực ra một tấm lệnh bài màu đen. Trên lệnh bài khắc hoa văn quan phủ ngay ngắn, đường nét rõ ràng, trông vô cùng uy nghiêm.
Đương nhiên đây chỉ là lệnh bài giả do nàng trong nháy mắt huyễn hóa ra, nhưng dùng để lừa người thì đã đủ.
Nàng đưa lệnh bài cho lão nhân xem rồi nói tiếp:
“Những vụ mất tích ở nơi này đã được báo lên từng cấp nhưng triều đình vẫn chưa thể giải quyết ổn thỏa. Vì vậy mới phái chúng tôi tới điều tra kỹ càng.
Chúng tôi muốn làm rõ ngọn nguồn, trừ bỏ tai họa, trả lại cuộc sống yên ổn cho dân chúng nơi đây.”
Lão nhân liếc nhìn tấm lệnh bài màu đen, động tác thu dọn củi thoáng khựng lại. Ông hừ lạnh một tiếng, sắc mặt vẫn chẳng khá hơn, không nói thêm gì, chỉ xoay người né sang một bên cửa viện, xem như ngầm cho phép bọn họ vào nhà nói chuyện.
Mấy người theo ông bước vào căn nhà nông đơn sơ.
Trong nhà tuy đồ đạc cũ kỹ nhưng được dọn dẹp vô cùng sạch sẽ, bàn ghế đều lau bóng loáng.
Vừa ngồi xuống, Yến Diêu Ca đã đi thẳng vào vấn đề:
“Lão bá, trên đường tới đây chúng tôi thấy thôn này vốn phải là một đại thôn rất phồn thịnh, vì sao lại hoang phế đến mức này?
Theo lý mà nói, người dân đều quyến luyến cố hương, sao có thể dễ dàng dời đi hết như vậy?”
Nhắc tới chuyện này, đáy mắt lão nhân hiện lên vẻ thổn thức cùng cay đắng nặng nề. Ông chậm rãi thở dài, giọng khàn khàn:
“Còn không phải như thế sao? Mấy năm trước, nơi này là một trong những đại thôn nổi tiếng nhất vùng. Ruộng đất màu mỡ, chợ búa lại gần, nhà nhà an cư lạc nghiệp, cuộc sống sung túc vô cùng.”
Yến Diêu Ca khẽ gật đầu:
“Nếu đã như vậy, vì sao lại sa sút đến mức này? Có phải vì Yên Sơn môn hay không?
Trên đường tới đây, chúng tôi nghe đủ loại lời đồn. Có người nói Yên Sơn môn môn phong đoan chính, chưởng môn nhân hậu. Lại có người nói Yên Sơn môn làm nhiều điều ác.
Lão bá sống ở đây nhiều năm như vậy, không biết có thể cho chúng tôi biết chân tướng được không?”
Lão nhân trầm mặc hồi lâu mới run run ngẩng đầu.
Trong đôi mắt đục ngầu chứa đầy nỗi buồn khó tả cùng sự bất đắc dĩ. Ông chậm rãi mở lời, giọng nói ngập tràn hoài niệm:
“Nếu hỏi về Yên Sơn môn và chưởng môn của họ là Trương Vô Sinh, thì trước kia không có gì để chê cả. Trong phạm vi trăm dặm quanh đây, chẳng ai không giơ ngón tay cái tán thưởng.”
Ông siết chặt vạt áo cũ trên đầu gối, chìm vào hồi ức, trên mặt bất giác hiện lên một nụ cười nhàn nhạt.
“Trương chưởng môn là người vô cùng hòa nhã. Mỗi dịp lễ tết xuống núi, gặp già trẻ lớn bé trong thôn đều cười chào hỏi.
Các đệ tử dưới môn vào mùa vụ còn chủ động giúp dân thu hoạch hoa màu, sửa sang nhà cửa, gánh nước chẻ củi, chưa từng đòi hỏi bất kỳ sự báo đáp nào.
Khi ấy, hễ nhà nào có con trẻ đến tuổi đều nghĩ đủ mọi cách đưa chúng lên núi.
Không mong học được bản lĩnh cao siêu gì, chỉ mong chúng được luyện chút quyền cước để cường thân kiện thể. Trương chưởng môn cũng chưa từng từ chối, ai cũng được ông tận tâm dạy dỗ.”
Nói đến đây, giọng lão nhân chợt trầm xuống.
Nụ cười trên mặt tan biến sạch sẽ, chỉ còn lại vẻ cay đắng nặng nề.
“Khi ấy, dân chúng vùng này đều được Yên Sơn phái che chở. Đừng nói sơn phỉ giặc cỏ, đến cả chuyện trộm cắp vặt cũng rất hiếm xảy ra. Nhà nhà hòa thuận, cuộc sống yên ổn.
Mọi người từ tận đáy lòng kính yêu Trương chưởng môn, kính yêu toàn bộ Yên Sơn môn, xem họ như chỗ dựa của dân chúng nơi này.
Nhưng từ hai năm trước, sau khi Trương chưởng môn bị trọng thương rồi bế sơn dưỡng thương, mọi thứ đều thay đổi.”
Giọng lão nhân hơi run lên, đáy mắt hiện ra màu đỏ nhàn nhạt vì nghĩ lại mà vẫn sợ hãi.
“Không còn Yên Sơn môn che chở, đám sơn phỉ giặc cỏ quanh vùng lập tức kéo đến như ong vỡ tổ.
Ban đầu chúng chỉ cướp chút lương thực tiền bạc, nhưng về sau càng lúc càng càn rỡ, trực tiếp vào thôn cướp bóc đốt giết. Có mấy lần suýt nữa đã tàn sát cả thôn.
Dân làng chúng tôi cầm cuốc cầm liềm đứng lên chống lại, nhưng làm sao địch nổi bọn cướp mang đao thương ấy?
Nhà nào cũng có người thiệt mạng, mất người thân, tổn thất vô cùng nặng nề.
Bị dồn đến đường cùng, các cụ già trong thôn bèn kết bạn lên Yên Sơn môn, quỳ trước sơn môn dập đầu cầu xin, mong Trương chân nhân niệm tình xưa mà ra tay cứu giúp.
Nhưng mặc cho chúng tôi khóc lóc cầu khẩn thế nào, cánh sơn môn kia vẫn luôn đóng chặt. Đừng nói một đệ tử bước ra, từ đầu đến cuối ngay cả một lời đáp lại cũng không có.”
Nói tới đây, trong giọng lão nhân lộ rõ sự thất vọng cùng nỗi chua xót khó lòng nguôi ngoai.
“Từ đó về sau, trái tim mọi người đều lạnh cả rồi.
Chỗ dựa không còn, hy vọng cũng chẳng còn nữa.
Ngày nào cũng nơm nớp lo sợ đám giặc cướp quay lại tàn sát cả làng.
Sau đó có người đứng ra tổ chức dân làng đến quan phủ báo quan.
Quan phủ cũng có phái người tới, nhưng đám giặc cỏ ấy quá xảo quyệt. Quan binh tới thì chúng trốn vào núi sâu, quan binh đi rồi lại xuất hiện làm ác.
Cứ như vậy lặp đi lặp lại nhiều lần mà vẫn không thể quét sạch được chúng.”
Ông lại khẽ thở dài.
“Lớp trẻ nhìn thấy quê hương điêu tàn, chỗ dựa sụp đổ, ngày nào cũng sống trong sợ hãi nên không thể ở lại được nữa. Ai nấy đều mang theo gia đình tha hương tìm kế sinh nhai.
Chỉ còn lại những lão già cố chấp như chúng tôi, không nỡ rời bỏ mảnh đất đã nuôi mình khôn lớn, lại chẳng còn nơi nào để đi, đành cố bám trụ trong ngôi làng đổ nát này.”
Lão nhân lau khóe mắt, giọng nói dịu đi đôi chút:
“Cũng may trời còn thương. Sau nhiều lần báo quan, cuối cùng cấp trên đã phái đại quân tới tiễu phỉ.
Đánh dẹp hơn nửa năm trời, rốt cuộc cũng quét sạch được đám giặc cướp. Bây giờ quanh đây không còn nạn phỉ nữa.
Chỉ tiếc người đi thì trà lạnh, làng hoang rồi, lòng người cũng tản mất.
Những người trẻ đã bỏ đi, không một ai muốn quay về nữa.
Một ngôi làng lớn như vậy, giờ chỉ còn mấy lão già chúng tôi canh giữ nơi thôn xóm trống vắng này, lay lắt qua ngày mà thôi.”