Chương 114/482
Thứ 114 chương Quyển hai Thâm tình Mười bốn Phiên nhược kinh hồng
Audio chương này hiện không khả dụng.
Chương 114
Quyển Hai: Thâm Tình Thập Tứ
Phiên Nhược Kinh Hồng
Tương truyền Hán Minh Đế Lưu Trang từng mộng thấy một vị thần nhân thân cao hai trượng, thân tỏa kim quang, trên đầu có hào quang trắng, từ phương Tây bay tới. Không rõ là điềm lành hay dữ, bèn triệu tập quần thần để giải mộng. Sau đó được biết vị thần nhân trong mộng chính là đấng Đại Thánh của Tây phương, Phật Đà. Hán Minh Đế liền sai Thái Âm cùng mười tám người sang Thiên Trúc cầu pháp. Vì thế mới có Nhiếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan không quản vạn dặm xa xôi, cam chịu vượt lưu sa đến Trung Thổ hoằng dương Phật pháp, từ đó Trung Thổ mới có ngôi Phật tự đầu tiên là chùa Bạch Mã ở Lạc Dương.
Trong số đó, cao tăng Thiên Trúc Trúc Pháp Lan là bậc thầy của các học giả Thiên Trúc, bác văn cường ký, có thể đọc thuộc hàng trăm vạn lời kinh. Khi viên tịch tại Bạch Mã tự, ông để lại lời sấm rằng: một khi Trung Nguyên đại loạn, tăng nhân có thể đến nơi “Nhị hỏa nhất đao” để tránh nạn binh đao, tiếp tục phát dương Phật pháp.
Đến thời Tây Tấn xảy ra loạn Bát Vương, các Phật tự ở Lạc Dương hầu như bị hủy diệt sạch, tăng chúng tứ tán. Một vị tăng ở Bạch Mã tự khi lục tìm kinh quyển đã phát hiện di ngôn của Trúc Pháp Lan, liền nói rằng “Nhị hỏa nhất đao” hợp lại thành chữ “剡” (Diệm). Câu chuyện này lan truyền trong tăng chúng, khiến nhiều vị cao tăng dẫn đệ tử xuôi nam đến huyện Diệm thuộc quận Hội Kê tụ hội lập chùa. Chi Mẫn Độ cũng là một trong những cao tăng Nam độ. Các Phật tự tại huyện Diệm phần lớn đều được xây dựng vào thời kỳ ấy, nổi tiếng nhất có Ẩn Nhạc tự, Nguyên Hóa tự và Tê Quang tự. Tê Quang tự nằm dưới chân núi Nam Ốc Châu ở phía đông nam huyện Diệm.
Trần Thao Chi dẫn Lai Chấn và Kinh Nô ngồi xe bò lên đường. Hành giả Linh Hữu của Tê Quang tự lại đi bộ. Trần Thao Chi vốn không biết Tê Quang tự nằm ở huyện Diệm, chỉ nghĩ ở vùng Sơn Âm thuộc Hội Kê. Chuyến đi này theo hắn tưởng chỉ hơn một trăm bốn mươi dặm.
Đến khi biết Tê Quang tự ở phía đông huyện Diệm, hắn không khỏi cau mày:
“Tiền Đường đến huyện Diệm và đến Ngô Quận, đường đi cũng không chênh lệch bao nhiêu. Trong vòng năm ngày làm sao có thể đi rồi lại về được?”
Hành giả Linh Hữu đáp:
“Trần thí chủ không cần lo đường xa. Sư phụ ta đã dặn rồi. Nếu mời được Trần thí chủ thì cứ đến biệt trang của Tạ An Thạch trên Đông Sơn thuộc Hội Kê. Trước ngày hai mươi tháng này, sư phụ ta đều ở đó.”
Trần Thao Chi hỏi:
“Không biết biệt trang Tạ thị cách đây bao xa?”
Linh Hữu theo hầu danh tăng Chi Mẫn Độ nhiều năm, lời lẽ không tầm thường, đáp:
“Biệt trang Tạ thị nằm trong địa giới Thượng Ngu, phía tây nam giáp Sơn Âm, ở giữa Đông Sơn, bên bờ Diệm Khê, cách đây chừng hai trăm dặm.”
Trần Thao Chi gật đầu, thầm nghĩ:
“Hai trăm dặm đi về, năm ngày tuy gấp gáp nhưng nếu dậy sớm nghỉ muộn thì vẫn kịp trở lại.”
Nghĩ vậy, hắn yên tâm lên đường. Nghe tiếng bánh xe lộc cộc, hắn lại nghĩ:
“Thì ra biệt trang Tạ thị ở trong địa giới Thượng Ngu. Chẳng trách Chúc Anh Đình nhận lời tham dự Đông Sơn nhã tập. Không biết Chúc Anh Đài có đến dự hay không? Không đúng, phải là tỷ đệ Chúc thị mới đúng. Tỷ đệ Chúc thị tài hoa xuất chúng, chưa chắc đã kém đám tử đệ Tạ thị.”
Lúc ấy Lai Chấn đánh xe nói:
“Tiểu lang quân hẳn vẫn kịp dự Đông Sơn nhã tập của Tạ thị.”
Hành giả Linh Hữu đáp:
“Sư phụ ta cũng đang đi dự Đông Sơn nhã tập. Trước sau kéo dài ba ngày, đến ngày mười chín mới tan.”
Lai Chấn nói:
“Hôm nay là ngày mười sáu, vẫn kịp.”
Trần Thao Chi đáp:
“Ta đi mời Chi Mẫn Độ đại sư chữa bệnh cho mẫu thân, đâu có thời gian tham gia nhã tập.”
Tuy nói vậy, trong lòng hắn vẫn thấy tiếc nuối, lại có một nỗi nghi hoặc khó gọi tên. Cứ luôn cảm thấy có chuyện gì đó mình chưa nghĩ thông. Có lúc dường như đã nắm được đầu mối, nhưng nghĩ sâu thêm lại trở nên mờ mịt, tựa như tìm hoa giữa làn sương. Một cơn gió thổi qua, màn sương biến ảo, cảnh trước mắt liền đổi khác.
Từ trước đến nay mạch suy nghĩ của Trần Thao Chi rất rõ ràng, giỏi suy luận biện giải. Cảm giác hỗn độn khó hiểu như thế này quả là hiếm thấy.
Hạ chí đã qua, ngày dài đêm ngắn, rất thích hợp để đi đường. Khi trời tối hẳn, bốn người đã đến huyện Dư Kị nghỉ lại một đêm. Sáng hôm sau tiếp tục lên đường, đi qua huyện Sơn Âm. Nơi đây hồ nước như gương cổ trải khắp, cùng Ngô Quận đều là vùng sông nước Giang Nam, nhưng vẻ đẹp núi non còn hơn hẳn Ngô Quận.
Vương Hi Chi từng du ngoạn Hội Kê, để lại câu:
“Đi trên đường Sơn Âm, như dạo chơi trong gương.”
Vương Hiến Chi cũng từng nói:
“Đi trên đường Sơn Âm, núi sông nối nhau khoe sắc, khiến người nhìn không xuể.”
Cố Khải Chi từ Sơn Âm trở về Ngô Quận, có người hỏi vẻ đẹp núi sông nơi đó, ông đáp:
“Ngàn nham đua sắc, vạn khe tranh dòng, cỏ cây phủ kín trên cao, tựa mây bốc ráng giăng.”
Tuy Trần Thao Chi vẫn nhớ thương bệnh tình của mẫu thân, tâm trạng nặng nề, nhưng đi trên đường Sơn Âm, thấy núi sông như tranh vẽ, lòng cũng không khỏi thư thái đôi phần.
Hành giả Linh Hữu chỉ về phía xa, nói:
“Trần thí chủ, đó chính là nơi tổ chức Lan Đình nhã tập sáu năm trước.”
Trần Thao Chi nhìn về phía núi non trùng điệp, mậu lâm tu trúc, nhớ lại thịnh hội Lan Đình năm Vĩnh Hòa thứ chín. Khi ấy Tạ An, Tôn Xước cùng nhiều danh lưu đều từng dự hội, làm lễ tu hễ bên dòng nước, uống rượu ngâm thơ. Sau đó Vương Hi Chi tập hợp thơ văn của mọi người thành một tập sách, lại viết một bài tự, chính là thiên cổ danh tác 《Lan Đình Tập Tự》.
Nhân lúc tửu hứng đang cao, ông dùng giấy kén tằm, bút lông râu chuột viết liền bài tự ấy. Toàn văn hai mươi tám hàng, ba trăm hai mươi bốn chữ, những chữ lặp lại đều biến hóa khác nhau, tinh mỹ tuyệt luân.
Trần Thao Chi đọc thầm 《Lan Đình Tập Tự》, nghĩ:
“Cố tri nhất tử sinh vi hư đản, tề Bành Thương vi vọng tác.”
Dù Vương Hi Chi vốn khoáng đạt, nhưng đối với tử sinh và thọ yểu vẫn khó lòng hoàn toàn buông bỏ.
Ngày ấy mọi người cứ đi đường mãi đến giờ Tuất đêm khuya mới tới tiểu trấn Đông Quan ở ngoại ô phía đông huyện Thượng Ngu.
Linh Hữu nói:
“Đông Quan chỉ cách biệt trang Tạ thị trên Đông Sơn hai mươi dặm, sáng mai là tới.”
Sáng sớm ngày mười tám tháng năm, Trần Thao Chi tắm gội thay y phục, đầu đội tiểu quan sa mỏng màu đen, dây mũ nhẹ buộc dưới hàm. Trên người mặc áo đơn bằng vải cát, khoan bào đại tụ, phong thần tuấn lãng. Đi qua phố xá Đông Quan liền khiến người người ngoái nhìn.
Giờ Thìn ba khắc, đoàn người tới tả ngạn Diệm Khê. Trước mặt là Đông Sơn cây cối xanh um, núi đồi trập trùng kéo dài mấy chục dặm. Dòng Diệm Khê uốn quanh chân núi, cả một vùng đều thuộc lãnh địa của biệt trang Tạ thị.
Dưới chân núi có cổng lớn của biệt trang, trông tựa sơn môn chùa chiền. Hai bên dựng mấy dãy nhà gỗ, có gia nhân trông coi. Hành giả Linh Hữu nói rõ mục đích chuyến đi, liền có người dẫn đường đưa hắn cùng Trần Thao Chi vào biệt trang.
Đi qua hơn trăm bậc thềm đá rộng lớn, lại thấy mấy cây tùng long trảo cao lớn vươn mình đón khách. Địa thế nơi đây khá bằng phẳng. Đi thêm mấy chục trượng nữa thì gặp một bức tường đất đỏ thấp vây quanh một tiểu trang viên.
Người dẫn đường đi vào báo tin. Chẳng bao lâu sau liền có một quản sự của trang viên Tạ thị bước ra. Hắn vừa nhìn thấy Trần Thao Chi đã cười tươi:
“Vị này chính là Trần lang quân ở Tiền Đường phải không? Độ công hôm qua đã lên đường đi Tiền Đường. Trần lang quân trên đường chẳng lẽ không gặp?”
Trần Thao Chi sửng sốt.
Độ công chính là Chi Mẫn Độ. Nhưng sao ông lại đi Tiền Đường?
Hành giả Linh Hữu vội hỏi cho rõ. Quản sự đáp:
“Độ công nghe tin lệnh đường của Trần lang quân mang bệnh. Hôm qua ngài đã cùng nhà ta là Át lang quân đi Tiền Đường để chẩn trị cho lệnh đường.”
Trần Thao Chi mừng rỡ vô cùng. Hắn chỉ muốn lập tức quay về, mong giữa đường có thể gặp được Chi Mẫn Độ đại sư rồi cùng trở về Trần Gia Ổ. Nhưng nghĩ mình đã đến biệt trang Tạ thị mà không vào bái kiến Tạ An thì thật thất lễ, bèn nói:
“Xin phiền báo với An Thạch công rằng Trần Thao Chi ở Tiền Đường xin được bái kiến.”
Quản sự liền dẫn Trần Thao Chi men theo con đường núi bên trái tiểu trang viên. Đi qua một đoạn sườn dốc thoai thoải, chợt nghe tiếng sáo đàn xuyên qua rừng cây vọng đến, mờ ảo mà êm tai lạ thường.
Trên sườn núi cạnh vực có một tòa lầu gỗ tám mặt rộng lớn. Sau lầu là biển trúc mênh mông. Bên trái có một bụi tường vi lớn.
Vốn cuối xuân đầu hạ là mùa tường vi nở, vậy mà ở biệt trang Tạ thị trên Đông Sơn, tường vi luôn nở muộn. Nay hạ chí đã qua, tháng sáu gần tới, những khóm tường vi vàng đỏ vẫn còn đua nhau khoe sắc.
Quản sự vào trong báo tin.
Trần Thao Chi đứng dưới thềm, ngửi hương tường vi, lắng nghe tiếng nhạc trong lầu rồi bất giác nghĩ:
“An Thạch không xuất, thiên hạ thương sinh biết phải làm sao?”
Sử sách chép rằng Tạ An từng hỏi con cháu mình câu nào trong 《Mao Thi》 là hay nhất.
Tạ Huyền đáp:
“Ngày xưa ta đi, dương liễu y y.”
Tạ Đạo Uẩn thì nói:
“Cát Phủ tác tụng, mục như thanh phong. Trọng Sơn Phủ vĩnh hoài, dĩ úy kỳ tâm.”
Tạ An cho rằng chất nữ Tạ Đạo Uẩn đã lĩnh hội được phong vị thanh nhã sâu xa. Còn bản thân ông lại chọn câu:
“Hu mô định mệnh, viễn do thần cáo.”
Qua đó có thể thấy chí hướng chính trị của Tạ An. Ông tuyệt không cam lòng ẩn cư nơi sơn dã. Nhưng tháng trước Hy Siêu tới mời ông xuất sơn, vậy mà đến giờ ông vẫn chỉ yến ẩm đàn sáo, xem ra nhất thời chưa có ý định tham chính.
Trần Thao Chi bỗng nhớ lại lúc cùng Chúc Anh Đài đàm đạo 《Mao Thi》, nàng cũng vô cùng tán thưởng hai câu:
“Cát Phủ tác tụng, mục như thanh phong.”
Đúng lúc ấy, tiếng nhạc trong lầu đột nhiên dừng bặt. Ngay sau đó có hai thiếu niên tuấn mỹ bước ra đón khách.
Người bên trái sắc mặt hơi tái, dung mạo thanh tú tuyệt mỹ, đứng trên hành lang nhìn Trần Thao Chi từ trên xuống dưới một lượt rồi mới chắp tay nói:
“Tử Trọng huynh, gia phụ cho mời.”
Trần Thao Chi đáp lễ, thần thái thong dong. Hắn bước lên bảy bậc thềm, cởi giày rồi vào lầu.
Trong lầu rèm gấm buông rủ, kỷ án bày khắp nơi. Hơn mười thanh niên thế gia đang ngồi, đồng loạt quay nhìn hắn.
Trần Thao Chi mắt nhìn thẳng, chỉ nhìn người nam tử ngồi phía bắc.
Người ấy khoảng hơn bốn mươi tuổi, mặt như ngọc, ba chòm râu dài, mắt hẹp dài, đuôi mày hơi nhếch. Chỉ liếc nhìn một cái đã thấy ánh mắt trong sáng khác thường. Trong tay ông cầm chiếc quạt bồ quỳ.
Hai bên ông còn có mấy kỹ nữ ngồi hầu, hương phấn ngào ngạt, y phục lộng lẫy. Tất cả đều chăm chú nhìn Trần Thao Chi.
Trần Thao Chi vái dài sát đất, giọng sáng sủa:
“Tiền Đường Trần Thao Chi bái kiến An Thạch công.”
Người nam tử ấy chính là Tạ An, đệ nhất danh sĩ Giang Tả.
Lúc này ông từ từ đứng dậy. Thân cao khoảng bảy thước bốn tấc, còn cao hơn Trần Thao Chi nửa cái đầu. Dáng người cao mà không thô, phong thái tuấn tú bất phàm.
Ông nhìn Trần Thao Chi, mỉm cười nói:
“Từ khi Hy Gia Tân nhắc đến Trần Thao Chi ở Tiền Đường, hơn một tháng nay ta vẫn thường nghe danh ngươi. Hôm nay được gặp, vui mừng biết bao. Mời ngồi.”
Trần Thao Chi không ngồi xuống, nói:
“Xin An Thạch công thứ cho sự thất lễ của Thao Chi. Ta phải lập tức trở về Tiền Đường. Gia mẫu đang đau yếu. Chuyến này ta đến là để mời Độ công chữa bệnh cho bà. Nay mới biết hôm qua Độ công đã lên đường tới Tiền Đường, nên muốn lập tức quay về. Trước khi đi đặc biệt đến bẩm báo với An Thạch công rồi xin cáo từ.”
Nói xong lại vái sâu một cái, tiếp đó thi lễ với mọi người trong phòng rồi quay người bước nhanh ra ngoài.
Tạ An đi tới trước cửa sổ dài, nhìn theo bóng lưng Trần Thao Chi, nói:
“Người này lòng lo bệnh mẹ, trong mắt ẩn vẻ ưu tư, nhưng lời nói cử chỉ vẫn ung dung tự tại. Phong nghi như thế thật hiếm thấy.”
Rồi quay lại nói với mọi người:
“Ngưng Chi, Huy Chi, hai người từng nói Trần Thao Chi thổi sáo dọc có phong vị Hoàn Dã Vương. Đáng tiếc hôm nay không được nghe.”
Vương Huy Chi cười đáp:
“Trần Thao Chi đến đi vội vã, phiên nhược kinh hồng. An Thạch thúc phụ hẳn cũng lấy làm tiếc.”
(Chương này hết)